
190 Chương 4. Từ Châu Âu già cỗi đến Thế giới Mới
được thực hiện theo hai bước: chế độ nô lệ được xóa bỏ đầu tiên vào năm 1792, được Napoléon
xác lặp lại năm 1803, rồi xóa bỏ vĩnh viễn năm 1848), một phần của vốn nước ngoài tại thế kỉ 18
và đầu thế kỉ 19 có dạng các đồn điền ở đảo Antilles (như hình ảnh của ngài Thomas trong tiểu
thuyết Mansfield Park) hoặc ở các đảo nô lệ trên Ấn Độ dương (đảo Bourbon và đảo France; hai
đảo này trở thành đảo Réunion và đảo Maurice sau Cách mạng Pháp). Các sở hữu này ngầm
bao gồm cả nô lệ, và trong các phép tính ở phần trên, ta đã không tách phần sở hữu nô lệ ra
riêng rẽ. Tuy nhiên tại hai nước trên, tổng sở hữu ngoài nước vẫn không vượt quá 10% thu nhập
quốc gia: tầm quan trọng của nô lệ trong tổng tài sản hiển nhiên là thấp hơn tại Mĩ rất nhiều
24
.
Ngược lại, trong những xã hội mà nô lệ chiếm phần lớn dân số, giá trị thị trường của vốn nô
lệ một cách tự nhiên có thể đạt đến những mức rất cao, có khả năng cao hơn vốn nô lệ tại Mĩ
và cao hơn tất cả các dạng tài sản khác. Ta hãy xét một trường hợp cực điểm: gần như toàn bộ
dân số bị sở hữu bởi một phần thiểu số cực nhỏ. Để minh họa ta giả sử thu nhập từ làm việc
(nghĩa là những gì làm việc đem lại cho chủ nô) chiếm 60% thu nhập quốc gia, và thu nhập từ
vốn (nghĩa là tiền thuê nhà, tiền lợi nhuận, v.v, do đất đai và các loại vốn khác mang lại cho
chủ sở hữu) chiếm 40% thu nhập quốc gia, và tỉ lệ lãi trên tất cả các dạng vốn phi con người là
5% một năm.
Theo định nghĩa, giá trị vốn quốc gia (không tính nô lệ) bằng tám năm thu nhập - đây là
qui luật cơ bản đầu tiên của chủ nghĩa đồng vốn (β = α/r) được đưa vào trong chương 1.
Trong một xã hội chiếm hữu nô lệ, ta có thể áp dụng qui luật trên để tính mức vốn hóa của
nô lệ: nếu nô lệ đem lại tương đương 60% thu nhập quốc gia và nếu tỉ lệ lãi hàng năm trên tất
cả các loại vốn là 5%, thì giá trị thị trường của tổng dự trữ nô lệ sẽ bằng mười hai năm thu nhập
quốc gia - tức là gấp rưỡi vốn quốc gia, đơn giản là vì nô lệ đem lại thu nhập gấp rưỡi thu nhập
từ vốn. Nếu ta đem cộng giá trị nô lệ vào giá trị vốn, hiển nhiên ta sẽ có hai mươi năm thu nhập
quốc gia, bởi lẽ toàn bộ dòng tiền thu nhập và sản lượng hàng năm được vốn hóa với tỉ lệ 5%.
Trong trường hợp nước Mĩ những năm 1770-1810, giá trị vốn nô lệ vào khoảng một năm rưỡi
thu nhập quốc gia (chứ không phải mười hai năm), một phần là vì tỉ lệ nô lệ trong toàn bộ dân
24
Số lượng nô lệ được giải phóng năm 1848 tại các thuộc địa của Pháp được đánh giá vào khoảng 250000 người
(tức là chưa đạt 10% tổng số lượng nô lệ tại Mĩ). Tuy nhiên, cũng giống như tại Mĩ, các dạng bất bình đẳng pháp
lí đã kéo dài rất lâu sau sự giải phóng chính thức: ví dụ, tại đảo Réunion, người ta đòi hỏi những người nô lệ cũ
sau năm 1848 phải có hợp đồng lao động với tư cách giúp việc nhà hoặc công nhân trong một đồn điền nào đó,
nếu không những người này có thể bị bắt và bỏ tù như những kẻ khốn cùng; sự khác biệt so với chế độ pháp lí
trước đó (những người nô lệ bỏ trốn sẽ bị truy đuổi và trả lại cho chủ cũ) là có thật, nhưng nó giống như một sự
nối tiếp hơn là đoạn tuyệt hoàn toàn.